Showing posts with label Chiến tranh. Show all posts
Showing posts with label Chiến tranh. Show all posts

February 17, 2013

17-02

Hôm nay 17-02, vào FB và được nhắc nhớ. 34 năm trước 17-02-79 mình còn nhỏ, lần đầu tiên biết nỗi sợ hãi chiến tranh rất gần. Vẫn nhớ mình với mấy đứa em lít nhít đứng xem Ba cùng anh Quý đào hầm trú sau vườn, nhớ những chiếc xe tải đi qua đường trước nhà mình chở chật các anh lính rất trẻ vẫy tay chào tạm biệt tất cả mọi người trên đường, chào cả mình/ "chào mẹ con đi nhé"/ "chào em anh đi nhé"/ "chào cô bác cháu đi nhé"... và thấy mẹ khóc. Nhớ ngược chiều dòng xe lính là dòng người đeo xách, nhiều người mặc quần áo dân tộc, nhiều người già, trẻ em, mẹ bảo người trên biên giới họ chạy về. Nhưng nhớ nhất là mỗi sáng đi học mẹ lại lộn bên trong quần khâu cho mỗi anh chị em mình một chút tiền vào đó... bọn mình không hiểu gì, chỉ nhận biết mẹ khâu bằng nỗi lo lắng và nỗi sợ.

17-02!

17-02-1979 Trung Quốc bất ngờ nổ súng qua đất Việt trên toàn tuyến biên giới phía bắc, với 60 vạn lính tràn qua, có lúc tiến sâu và chiếm được thị xã Lào Cai, Lạng Sơn... trước khi bị đẩy lùi một tháng sau đó. Biết bao xương máu đã đổ trên dải biên cương phía Bắc của Tổ Quốc. Trong một buổi chào cờ đầu tuần trường mình có một chú bộ đội đến kể chuyện về trận chiến ở Lạng Sơn, nhiều điều mình đã quên nhưng có một chi tiết thì không quên được: Trung Quốc dùng chiến thuật lấy thịt đè người, tiểu đổi chú giữ chốt lia súng bắn không ngơi nghỉ mà lớp này bị đạn lớp kia họ lại tiến đến, một rừng người vô tận. Cứ thế, mình bắn đến hết đạn, cả tiểu đội không còn ai, riêng mình chú bị thương, nằm giữa đống xác giả chết, giặc giẫm tràn qua rồi bỏ, chờ đêm đến bò rừng về tuyến sau nên còn sống.
17-02-1079. 34 năm nhưng không qua đi vì suốt xưa đến nay Trung Quốc vẫn luôn lăm le mục tiêu bành trướng lãnh thổ các nước láng giềng trong đó có mộng thè liếm toàn bộ Biển Đông bằng 'đường lưỡi bò' tự vạch.
Vì lý do gì đó không được open, hơn 30 năm qua cuộc chiến phía Bắc gần như không được nhắc tới. Có thể người thân bạn thân đọc câu này sẽ lo cho mình, nhưng câu này í này mình trích trong bài đăng hôm nay trên báo THANH NIÊN đấy. FB hôm nay truyền nhau bài này bày tỏ yêu quý và cảm phục báo Thanh Niên. Thanh Niên đã làm được điều xoa dịu nỗi đau linh hồn của hàng vạn người lính đã nằm lại trên dải biên giới phía Bắc năm 1979, vì Tổ Quốc.

Mình rất muốn mọi người, bạn bè mình, và các bạn trẻ sinh ra sau 1979 đọc bài này, và hãy ủng hộ Thanh Niên: Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979 (link)

Trung tâm Thị xã Lạng Sơn, 1979 (nguồn: báo Thanh Niên)

Còn đây là đoạn viết về một bức ảnh ứa máu (trên FB của nhà báo Lê Đức Dục) (link)

"Ở phòng khách của đồn biên phòng Pò Hèn (xã Hải Sơn, thành phố Móng Cái, Quảng Ninh) có một tấm ảnh đen trắng với dòng chú thích: "Tập thể cán bộ chiến sĩ đồn Pò Hèn, tháng 12-1978". Một tấm hình bình thường, được chụp vào dịp anh em đồn liên hoan cuối năm và đón năm mới 1979, nước ảnh đã ố màu thời gian.Nhưng nếu ai đã biết về huyền thoại Pò Hèn những năm tháng đó, sẽ giật mình hiểu ra. Bởi chỉ chưa đầy hai tháng sau khi tấm ảnh được chụp, hầu hết anh em cán bộ chiến sĩ có mặt trong tấm hình ấy đều đã hy sinh trong cuộc chiến tranh chống quân Trung Quốc xâm lược, bảo vệ biên cương Tổ Quốc vào tháng 2-1979. Máu những người lính trẻ ấy đã nhuộm đỏ ngọn đồi Pò Hèn, nhuộm đỏ khoảng sân đồn, nơi các anh em đã từng ngồi khoác vai nhau cười rạng rỡ trong bức ảnh mừng xuân… 
(xem bài trên Tuổi Trẻ sáng nay "Một ngày xuân bi tráng", tấm hình tư liệu này không đăng kèm bài, hầu hết những người có mặt trong ảnh dều hy sinh vào sáng 17-2-1979)" (Le Duc Duc FB)

Hôm nay 17-02, xin cúi đầu thắp một nén nhanh cho các anh, những người lính đã ngã xuống trên dải đất biên cương mùa xuân 1979 năm nào...


*** Có thể bạn muốn đọc:
- Các bài viết cùng chủ đề
- CHO MÌNH
- CẢM NHẬN VỀ CHIẾN TRANH

June 29, 2012

Nghĩ mà thương ơi

China bẩn vừa mời thầu 9 lô dầu khí thuộc vùng đặc quyền kinh tế của VN tại Biển Đông (vnexpress đăng tại đây):

Ngang ngược thế là cùng. Đồ mất dậy. Đồ tham thối. Đồ bẩn thỉu.

Về Quy định ranh giới đặc quyền kinh tế 200 hải lí của quốc gia ven biển mời bạn xem ở entry này), minh họa:

Thật ra mời thầu dầu khí chỉ là một bước tiếp. Nào cắt cáp. Nào đường lưỡi bò. Nào bắt bớ ngư dân 'lạ'. Có điều, dù có ghét lắm thì mình cũng phải tủi thân nhận là nó hơn khi làm tốt tuyên truyền để khắp dân nó tin đường lưỡi bò là của China.

Trông nó lại nghĩ đến ta ngậm ngùi.

Hôm nay thảy lên FB status "Cây muốn lặng mà gió chẳng đặng đừng. Mà lặng gì gió gì cái thằng bẩn ấy. Thật là bẩn không chịu nổi.
Mà đang lúc như này sao lại chặn Blog chứ. Để tới lúc uýnh nhau dân cứ ô với a hết cả thì mất biển à. Nhà mạng là nhà mạng ơi
".

Nghĩ mà thương Việt Nam.

June 23, 2011

Không đề

ú hu, trời mưa. Đang thích trời mưa. Mấy ngày nay nóng nực quá. Ước gì hôm nay cuối tuần, mưa bão 2 ngày ngồi nhà nấu bắp non, rang lạc (đậu phộng) bày vẽ rủ Dim Mei nằm ngồi nhấm nháp coi phim kênh Star Movie.

Kể mà mưa bão đi làm thì khổ. Làm nghề dịch vụ ngày mưa, ngày lễ càng khổ vì chả được nghỉ lại còn căng thẳng vất vả hơn.

Ngồi lỳ một chỗ nguyên ngày ở bàn, muốn đứng dậy đi lại mà nhìn quanh cả phòng vẫn chắm chúi, chỉ có tiếng gõ phím lách tách lách tách liên tục, sắp hét toáng lên với sếp: Phòng mình cần đăng ký khen thưởng 'làm việc mẫn cán', lấy tiền thưởng đóng bảo hiểm phòng khi cả lũ lăn quay ra vì bệnh thoái hóa cột sống.

Kệ. Tạm nghỉ. Không đi lại được thì nghỉ ngồi. Quay qua Blogging. Mà viết gì cũng thấy nhạt. Mở báo đọc cũng nhạt nốt, quanh đi quanh lại lại tin chém giết hoặc ca sĩ lộ hàng. Phòng mình mọi người bàn tán chuyện kỹ sư Tạch với lỗi Toyota Vietnam, nhưng mình chẳng đi ô tô nên cái đó cũng ngoài vòng quan tâm. Thật ra, thông tin mình muốn đọc vẫn là chuyện biển đảo, nhưng báo chính thống mất lòng tin quá, mở ra là nghĩ thông tin kiểm duyệt cắt hết phần khách quan, bias, nên tự dưng không muốn đọc.

Có phải cừu đâu.

Thế nên đọc mẩu tin bên nhà VuPundit về hội thảo an ninh biển Đông ở Mỹ, ngắn thôi, nhưng thấy mừng, vì người dân Vietnam ít nhiều cảm thấy bớt cô độc, lo sợ chiến tranh. Từng chùng sụm khi đọc một bạn đọc blog viết cho mình qua email: "Nếu phát động em sẽ xin nhập ngũ". Xót lòng. Thấy thương đất nước nhỏ của mình quá, đau khổ, mất mát vì chiến tranh, nghèo vì chiến tranh, chia cắt lòng người cũng vì chiến tranh.

Hôm kia vừa có cuộc họp về hoạt động hàng không dân dụng bay lệch qua biên giới không phận trong những trường hợp bất khả kháng. Gặp mấy anh ở Cục tác chiến - Bộ Tổng tham mưu và Quân chủng Phòng không Không quân (nghe oách quá), hỏi ngoài lề các anh dạo này biển đảo như vậy bên đó có căng không ạ? Trả lời là "Thì có nhưng mọi việc vẫn trong tầm kiểm soát", "chủ trương là giữ hòa bình, mềm mỏng, nhưng nếu kẻ kia xâm phạm thì ta nhất định sẽ giữ khẳng định chủ quyền", lại nói "em biết không, khi nhà hàng xóm cãnh kẹ, thì mang dao ra mài". Vâng :)

Thấy yên tâm.

Mà vẫn tự ngắc ngứ vì sao lại cứ áp dụng cứng nhắc cái luật cấm biểu tình. Ôn hòa, không phản đối chính quyền, biểu tình lòng yêu nước thì nên ủng hộ lắm, nhất là lúc này? Hình ảnh 'một sĩ quan an ninh bật khóc' cứ quẩn quanh mãi, không biết thông tin có đúng thực không...

*** Có chút gì liên quan:
- CẢM NHẬN VỀ CHIẾN TRANH

June 13, 2011

Biển Đông với mánh 'đục nước béo cò'

Trước đây, vì quan tâm vấn đề không phận - hải phận - biên giới lãnh thổ nên Lana đã tìm đọc ít nhiều thông tin về Trường Sa, Hoàng Sa ở nhiều thời điểm: Về Hải chiến Trường Sa 1988, Hoàng Sa 1974, về 'Công hàm 1958' TQ thâm nho diễn bài anh-em lừa cậu hàng xóm ngây ngố đang lục đục trong nhà để rồi lấy đó làm cớ vẽ đường lưỡi bò bao bọc 2 quần đảo này gom làm của mình. Vì những thông tin đọc được đều kiểu chắp nối, không có nguồn chính thống nào nên đành mình biết cho mình, nay đọc được bài này khá đầy đủ xin trích về đây chia sẻ. Người Việt nam yêu đất nước mình cần được biết mọi sự thật trong lịch sử của mảnh đất ấy, biết để thương hơn và nếu tình yêu còn đó thì sâu hơn, không để bắt lỗi, đơn giản thế thôi.

(Nguồn: ĐƠN ĐỘC - Huy Đức, Quechoa Blog)
... Hơn 300 năm trước, các Chúa Nguyễn đã đưa người đến Hoàng Sa và Trường Sa. Năm 1816, Gia Long chính thức thiết lập chủ quyền Việt Nam đối với cả hai quần đảo. Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ, bản vẽ năm 1838 của Nhà Nguyễn đã thể hiện hai quần đảo này với tên gọi là Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa. Năm 1920, Chính quyền Pháp, với tư cách là nhà nước bảo hộ ở Đông Dương đã ra tuyên bố khẳng định chủ quyền và từ đó người Pháp hiện diện ở đây liên tục. Tháng 11-1946, khi người Pháp bắt đầu chiến tranh trở lại với Việt Minh, chỉ có thể đưa quân kiểm soát cụm phía Tây Hoàng Sa, Tưởng Giới Thạch đã cho đổ bộ lên đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa và tháng 12-1946, đổ bộ lên Itu Aba, thuộc Trường Sa. Sau khi bị Mao đuổi khỏi lục địa Trung Hoa, năm 1950, quân Tưởng rút khỏi hai hòn đảo mà họ giữ gần 4 năm trước đó.

Năm 1954, theo Hiệp định Geneve, Hoàng Sa ở phía Nam Vĩ tuyến 17 sẽ thuộc về chính quyền miền Nam Việt Nam. Nhưng, tháng 4-1956, khi lực lượng Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa ra tiếp quản, hai đảo lớn nhất đã bị "Quân giải phóng Trung Quốc" chiếm mất. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa trên thực tế, cai quản liên tục bốn đảo chính: Pattle (Hoàng Sa); Robert (Cam Tuyền); Duncan (Quang Hòa Đông) và Drummond (Duy Mộng). Riêng đảo Pattle, Việt Nam còn có một đài khí tượng thuộc hệ thống quốc tế. Từ năm 1956, Việt Nam Cộng hòa, về mặt pháp lý, vẫn khẳng định chủ quyền trên phần bị Bắc Kinh chiếm đóng.

Tháng 4-1972, khi miền Bắc dồn lực trong một chiến dịch thảm khốc ở Quảng Trị. Người Mỹ cần Bắc Kinh làm ngơ để họ dội bom ra vĩ tuyến 20. Ngày 4-4-1972, Kissinger đã phái Winston Lord tới New York gặp Hoàng Hoa, đại sứ Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc, để "trao một bức điện bằng lời", nhắn Trung Quốc: "Hải quân Mỹ sẽ được lệnh ở lại tại khoảng cách 12 dặm". Người Trung Quốc hiểu, nếu họ đánh Hoàng Sa, người Mỹ sẽ án binh bất động. Từ ngày 16-1-1974, Trung Quốc bắt đầu cho tàu ép sát Hoàng Sa. Theo Phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại: "Các chiến hạm thuộc Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ ở rất gần các vị trí chiến hạm Việt Nam". Nhưng, Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã phải đơn độc chống lại Trung Quốc xâm lăng. Theo tướng Thoại: "Hạm Đội Bảy của Mỹ đã không làm gì kể cứu vớt các đồng minh lâm nạn". Kể từ ngày 19-1-1974, phần còn lại của Hoàng Sa Việt Nam bắt đầu bị Bắc Kinh chiếm đóng.

Tướng Giáp nhận được tin mất Hoàng Sa khi ông đang điều trị bệnh sỏi mật ở Liên Xô. Năm 1975, sau "chiến thắng Buôn Ma Thuột", Tướng Giáp kiến nghị Bộ Chính trị "tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo" mà miền Nam đang chiếm giữ. Ngày 2-4-1975, Tướng Giáp trực tiếp chỉ thị cho Tướng Lê Trọng Tấn lúc bấy giờ đang ở Đà Nẵng: "Tổ chức tiến công giải phóng các đảo, đặc biệt là quần đảo Trường Sa". Trước đó, ngày 30-3, Quân ủy cũng điện cho Võ Chí Công và Chu Huy Mân yêu cầu thực hiện. Chiều 4-4-1975, Quân ủy điện tiếp cho Quân khu V: "Kịp thời đánh chiếm các hòn đảo vùng Nam Hải, đặc biệt là các đảo Nam Sa. Việc này phải chuẩn bị gấp và bí mật, chỉ để cán bộ có trách nhiệm biết". Ngày 9-4-1975, Cục Quân báo có tin quân đội Sài Gòn rút khỏi các đảo, Quân ủy gửi điện "tối khẩn" cho Võ Chí Công, Chu Huy Mân và Phó Tư lệnh Hải quân Hoàng Hữu Thái: "Các anh cho kiểm tra và hành động kịp thời... Nếu để chậm, có thể quân nước ngoài chiếm trước, vì hiện này một số nước ngoài đang có ý đồ xâm chiếm". Từ ngày 14-4-1975 đến ngày 28-4-1975, Quân Đội Nhân dân Việt Nam đã tiếp quản tất cả những hòn đảo do quân đội Sài Gòn chiếm giữ.

Cho dù, theo lệnh ngày 13-4-1975 của Tướng Giáp, Quân đội miền Bắc đã không đụng vào các hòn đảo do Trung Quốc khi ấy đang chiếm giữ. Nhưng, ngày 5-5-1975, khi Đài Tiếng nói Việt Nam công bố, "Hải quân Việt Nam đã giải phóng quần đảo Trường Sa", một phóng viên Tân Hoa Xã tên là Ling Dequan đang thường trú tại Hà Nội đã thấy "đắng chát ở trong miệng". Ling Dequan, sau đó, nói Nayan Chanda: "Tin Việt Nam chiếm các hòn đảo đến như một cú shock vì trước đó họ đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên những hòn đảo ấy". Mân Lực, tác giả cuốn sách "Mười năm chiến tranh Trung-Việt", cũng gọi hành động tiếp quản Trường Sa của Hải Quân Việt Nam là "ngang nhiên chiếm đóng 4 đảo trong quần đảo Nam Sa của Trung Quốc". Vì theo Mân Lực: "Từ năm 1958, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã thông báo cho Thủ tướng Chu Ân Lai, rõ ràng xác nhận hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Nhưng hiện nay họ tiền hậu bất nhất ngang nhiên tuyên truyền đây là lãnh thổ của họ, sửa đổi bản đồ vẽ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào bản đồ Việt Nam".

Ngày 4-9-1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố: "Hải phận 12 hải lý kể từ đất liền là của Hoa Lục". Ngày 14-9-1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Chu Ân Lai công hàm mà đời sau có thể đọc được toàn văn trên báo Nhân Dân số ra ngày 22-9-1958: "Thưa đồng chí Tổng lý/ Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt bể. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng".

Cho dù, theo Mân Lực, Tuyên bố của Chu Ân Lai "có đính kèm bản đồ về đường ranh giới lãnh hải rất rõ ràng (trong đó bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa)". Cho dù, theo ông Trần Việt Phương, người có 25 năm làm thư ký riêng cho Phạm Văn Đồng: "Lúc bấy giờ quan hệ Việt-Trung đang rất tốt. Về phía Việt Nam, đang có quan niệm ngây thơ về chủ nghĩa quốc tế vô sản; quan niệm ngây thơ từ người cao nhất của Ta chứ không phải ở cấp độ vừa. Về phía Trung Quốc hiểu ra sự ngây thơ đó và đã có ý đồ không tốt. Tuy nhiên, dân tộc Việt Nam có trong máu hàng nghìn năm kinh nghiệm với Trung Quốc để, cho dù có sự 'ngây thơ quốc tế vô sản' cũng không đến mức có thể dẫn tới sự nhầm lẫn hoàn toàn".
"Công hàm 1958" là tuyên bố của một đồng minh, được đưa ra khi Mỹ đưa Hạm đội 7 hoạt động trên eo biển Đài Loan và đe dọa chủ quyền của "đồng minh" Trung Quốc. Cho dù, "Công hàm 1958" tuyên bố những gì thì nó cũng hoàn toàn không có giá trị công nhận Hoàng Sa là của Bắc Kinh. Từ năm 1954 đến trước ngày 30-4-1975, theo Hiệp định Geneve được ký bởi các bên trong đó có Hà Nội và Bắc Kinh, thì Hoàng Sa và Trường Sa – ở thời điểm 1958 – không phải là phần thuộc về miền Bắc mà đang là lãnh thổ hợp pháp của Việt Nam Cộng hòa, một quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc.

Sở dĩ những nhà văn, nhà báo như Ling Dequan, Mân Lực, bị shock khi nghe tin Việt Nam lấy lại Trường Sa, theo nhà nghiên cứu Dương Danh Di, với chính sách bưng bít thông tin, người dân Trung Quốc không hề biết Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ mà Việt Nam đã có chủ quyền liên tục hàng trăm năm, là phần lãnh thổ mà Chính quyền của họ mới "dùng vũ lực để cưỡng đoạt" trong thế kỷ 20 như những tên xâm lược.

Báo chí chính thống của Việt Nam, từ năm 1958, chưa bao giờ nhắc lại "Công hàm" của Phạm Văn Đồng, chưa giải thích "nội hàm" của tuyên bố ấy. Chính quyền, đã tới lúc nên tuyên bố về giới hạn pháp lý của Công hàm này, nên thừa nhận bản hiệp định (Geneve) mà mình đã đặt bút ký vào theo đó, Hoàng Sa và Trường Sa từ trước 30-4-1975 là phần lãnh thổ thuộc về Chính quyền Sài Gòn, nên dẫu Hà Nội có đưa ra tuyên bố gì thì cũng phải bị coi là "vô giá trị".
Đây không còn là chuyện "ăn-thua" với người anh em miền Nam mà là "mất-còn" với ngoại xâm. Đây cũng là lúc mà người dân tạm gác các bức xúc thường nhật để tập trung vào mối đe dọa đến từ phương Bắc.

*** Đọc thêm:
- CHO MÌNH
- MÌNH NÊN BIẾT

September 30, 2010

Có lẽ mình nên biết

Nhân việc bộ phim dã sử 'Đường tới thành Thăng long', một Blogger bạn mình so sánh sao người dân mình hãnh diện khi nói đến những tòa nhà kiến trúc kiểu Pháp để lại mặc dù Pháp đô hộ mình cả thế kỷ nhưng lại ghét TQ đến mức tẩy chay cả những giá trị nghệ thuật của họ. Mình đọc và thừa nhận rằng điều đó đúng và đáng suy nghĩ. Và mình có câu trả lời riêng rằng khác biệt bạn nói là do một câu chuyện đã qua và một câu chuyện vẫn còn đến hôm nay.

Mình chỉ là một hạt cát, mong một cuộc đời nho nhỏ bình an, gần như 'mũ ni che tai' với những điều to tát. Thế rồi vẫn có những điều bình thường ngay cạnh mình, những cuộc đời bình thường ngay cạnh mình nhắc nhớ về chiến tranh, về đất và biển đảo, nơi mà ngày hôm nay vẫn còn những ngư dân bị bắt bớ và những người lính cầm súng. Vì thế, mình nghĩ có lẽ mình và bạn mình nên biết những điều này:






*** đọc thêm entry liên quan:
- CẢM NHẬN VỀ CHIẾN TRANH
- VỀ FIR và VÙNG TRỜI

January 15, 2010

Nỗi nhớ Tháng ba

Hôm nay mình làm sao thế này nhỉ? - Mình bình thường đấy chứ, không khó chịu, không mệt mỏi, không buồn không vui. Sáng dậy đúng giờ, đi làm, công việc chạy bình thường - Thế sao bỗng giật mình nhìn lại 2 cái comments vừa viết khi đọc "Chuyện đời 8" của VMC và "Jesus" ở Blog Lvu, thấy giọng mình hôm nay như nhiều muối và ớt?
Không có lý do nào để lý giải cả. Hay con người cứ thi thoảng lại vô cớ bị bật ra khỏi cái trạng thái an hòa của mình như thế, naturally?

Calm down, relax... Mình sẽ nhớ và đọc thơ nhé. Như thế có thể sẽ làm mình dịu an trở lại. Nỗi nhớ Tháng ba. Có một bài thơ hình như chưa bao giờ được đăng. Bài thơ này mình chép tay và thuộc từ hồi đi học (mình nhớ tác giả là anh Nam Long học trường Tàu Odessa những năm cuối 1980s). Và từ khi biết bài thơ, mình yêu loài hoa xoan, kỳ lạ thế.


Nỗi nhớ Tháng ba
(tác giả: Nam Long)

Khi Hoa Xoan nở trắng đường xuống bến
Em nhớ tháng ba về
Nỗi nhớ như từng tia nắng mỏng
Nhắc cái nắm tay buổi tiễn đưa

Hai mươi năm đến bây giờ
Bến nước làng ta mỗi mùa thêm bậc
Em đợi anh cả thời trẻ nhất
Chỉ vì một bận nắm tay

Anh đi, gởi lại nụ cười
Cùng bạn bè đi giữ gìn biên giới
Chọn tấc đất thiêng anh nằm lại
Bến sông quê thành nỗi nhớ tháng ba

Mùa Xuân này trên ấy nhiều hoa
Em với đóa bông Trang trôi về ngấn nước
Hoa vô tư như tình anh ngày trước
Theo tháng ba đi, về...

Hai mươi năm một nỗi nhớ day dưa
Bến sông quê nhớ người trai trẻ
Nỗi nhớ tháng ba thành mùa hoa Xoan nở
Nhắc nguyên tình ta buổi tiễn đưa.

Đọc xong, viết xong... lại hơi buồn.
(hình: sưu tầm từ google search)

October 24, 2009

CẢM NHẬN VỀ CHIẾN TRANH

Cách đây chưa lâu, tôi được xem trên Blog của nhà báo Vũ Mạnh Cường clip về trận Hải chiến Trường Sa 14-3-1988 – ngày mà để giữ hải đảo của Tổ Quốc, 64 chiến sĩ hải quân đã hy sinh và vĩnh viễn yên nghỉ giữa biển khơi. Mắt tôi nhòe đi trước bức hình đen trắng đơn sơ của người Trung úy Hải quân chụp chung với vợ và những dòng chữ trong thư anh viết trước ngày cùng đồng đội bước bào trận chiến khốc liệt. Trái tim nhỏ của tôi nhói thắt cảm giác bất lực trước cảnh từng loạt đạn nổ và cả hàng người ngã đổ xuống biển mặn mòi. Và tôi, một kẻ chỉ biết về các cuộc chiến qua sách vở, qua những câu chuyện kể, ngồi thẫn thờ trước cảm nhận khôn cùng về những nỗi đau của chiến tranh. Nỗi đau mà dù nhiều thập kỷ trôi qua vẫn còn chưa thể nguôi quên với nhiều người.
(hình: sưu tầm)

Câu chuyện của mẹ
Tôi có một người bác, người con trai duy nhất của bác là anh Vinh, đi chiến trường B (phía Nam) năm 1971 khi 17 tuổi. Để rồi một năm sau đó bác gái gần như điên dại khi nhận giấy báo tử của anh ấy.

Người cha bây giờ hơn 80 tuổi, mắt đă mờ, hè năm kia ông mới nói với ba tôi (em trai ông) rằng người ta đó gửi cho ông thông tin về nơi chôn cất anh Vinh mấy năm rồi nhưng ông chỉ giữ trong lòng. Phần vì thấy mình đã già yếu; mà với ông cái địa danh Vĩnh Long ở tận miền Nam nghe quá đỗi xa xôi; thông tin thời chiến tranh ai dám chắc là nó chính xác hay không; Anh lại đă hy sinh gần 30 năm rồi. Bác tôi lặng lẽ giấu mọi người, nghĩ đành để anh yên nghỉ trong đó, mình mang theo lỗi với con đến khi chết.
Biết chuyện, lập tức ba mẹ tôi, cùng một người chú nữa, cả ba đều đă ngoài 60 tuổi, vào Vĩnh Long thăm phần mộ của anh ấy, và quyết định đem anh ấy về lại mảnh đất tuổi thơ. Người Việt tin vào tâm linh, tin rằng ngay cả sau khi chết người ta vẫn rất muốn được 'nằm' ở nơi gần gũi với người thân, họ hàng.

Cuối năm đó đi học xa về tôi được nghe mẹ kể chuyện về chuyến đi. Trong mắt Người có giọt nước mắt xót thương, lại có niềm hạnh phúc an ủi như làm xong một việc nghĩa với cháu, với người thân.

Mẹ kể em trai tôi (đang sống ở Sài Gòn) đi cùng 3 người già xuống Vĩnh Long, bốc hài cốt của anh trong một nghĩa trang vào giữa đêm (mẹ nói việc này 'theo các cụ nói' phải làm khi trời tối). Bốc xong tất cả ngồi chờ trời sáng đem theo bọc hài cốt đón xe về Sài Gòn. Ở Sài Gòn, ba người già mang theo bọc hài cốt nghỉ ở khách sạn chờ đến tối lên tàu về Bắc, không về nhà con cháu vì kiêng. Mẹ giở cho tôi coi những bức hình chụp dọc suốt chuyến đi - đi đến đâu hai người chú già cũng thay nhau ôm theo 'cháu'. Chỉ vào bức hình có chiếc bọc được gói ngay ngắn để nâng niu ở một phần giường ngủ trong phòng khách sạn, mẹ bảo: "Đây, nghỉ ở khách sạn thì đặt 'anh ấy' ở trên giường của chú, ngủ với chú, từ khi được đón, 'anh ấy' chẳng bao giờ bị lẻ loi".

Mẹ gọi chiếc bọc là 'cháu', là 'anh ấy' như nói về người cháu mẹ yêu quý còn đang sống vậy... Mẹ mơ màng như nói với chính mình: Thương quá, khi đi nó mới có 17 tuổi đầu. 18 tuổi nó đã mất. Mấy chục năm nằm trong đó một mình, bố mẹ chú thím ở hết ngoài này không biết ở đâu để thăm nom. Thằng bé cao và đẹp trai lắm, lúc nào cũng tươi như hoa...

Tôi luôn có cảm xúc đặc biệt mỗi khi nhớ về câu chuyện của mẹ. Về tình yêu thương. Về niềm tin tâm linh khi người ta làm việc nghĩa với người đã khuất. Về quê, tôi đă vào nghĩa trang liệt sĩ thắp hương cho anh – cảm thấy không khí thật dịu, chắc hồn người đă khuất cũng thanh thản lắm vì đă được trở về yên nghỉ giữa mảnh đất quê hương, gần bên những người ruột thịt.

Nhìn về phía bên kia
Khi tôi nói không mang thù với những người bên kia chiến tuyến, nhiều người sẽ nói "vì bạn chưa từng trực tiếp chứng kiến những nỗi đau mất mát". Nhưng với những người tôi đã gặp, nhừng gì tôi đã thấy, tôi luôn tin rằng, chỉ có những người/ những quyền lực gây ra chiến tranh mới đáng bị lên án, còn số đông những người tham gia cuộc chiến đơn giản vì họ không có nhiều lựa chọn, hoặc vì phục vụ cho đất nước họ hay cho lý tưởng mà họ tin. Họ không gây ra mà là nạn nhân của chiến tranh.

Tôi lại vừa xem lại clip Hải chiến Trường Sa 1988, và ngay lúc này nước mắt tôi vẫn đang tan chảy. Cảm nhận xa xót từng có khi tôi gặp những người mất mát từ cả hai phía cuộc chiến ở miền Nam năm xưa, cảm giác ghê sợ sự lạnh lùng của những loạt đạn TQ và nỗi xót đau một chiều của tôi đối với những người lính VN gìn giữ Trường Sa gần đây - tất cả đan chéo - làm tôi bất giác đặt dấu hỏi với chính những điều mình đang định viết.

Nhưng tôi tin, khi tạm đi xuyên qua nỗi đau, người ta có thể vượt qua được hận thù để nhìn rộng hơn, qua 'phía bên kia'. Những người có thân nhân tham gia vào cuộc chiến ấy cũng có những mất mát đớn đau. Cũng có những người mẹ, người vợ thấp thỏm ngày đêm khi chồng, con họ đi vào nơi bom đạn và máu đổ, đau xé ruột khi chồng/ con họ không trở về hoặc trở về với một cơ thể không còn lành lặn...

Và có cả những nỗi đau sau chiến tranh...

Khi mới hết phổ thông, những năm 84 – 85, tôi đă từng ngạc nhiên và không thể hiểu được khi đọc một bài báo về một bạn ở phía Nam, thi đỗ thủ khoa đại học ba năm liền mà không được vào đại học. Lý do chỉ vì trong lý lịch có người thân phục vụ cho 'chế độ cũ'. Thời đó báo mà đưa được câu chuyện ấy như một câu hỏi ra công chúng (đến tận một đứa trẻ con như tôi) chắc phải là một sự 'xé rào' lớn lắm. Khi ấy tôi c̣òn quá nhỏ nên không thể hiểu, và vì không hiểu nên nhớ câu chuyện đó đến tận bây giờ.

Suy cho cùng, người bạn thủ khoa ấy (nếu không nhầm thì sinh vào khoảng những năm 65 – 68, tức là mới chỉ 7 – 10 tuổi ở thời điểm năm 75) đã có lỗi gì? để rồi những cơ hội học hành / phát triển / một cuộc sống tốt đều bị chặn mất?
Sự thiệt thòi 'sau chiến tranh' ấy – đâu phải ai ở phía chiến thắng cũng được biết, và hiểu?

Những năm sau 1975 đến đầu 1980s, nhiều người phải ra đi bằng cách 'trốn' trên các con tàu/ thuyền, biết trước sẽ là gian nan, cướp bóc, chết chóc... Ra đi vì mong muốn một cuộc sống sung sướng hơn cũng có, ra đi vì cuộc sống ở lại không có nhiều cơ hội cho họ do đã từng phục vụ hoặc có người thân phục vụ trong chế độ trước 75 cũng không ít. Và, rất nhiều những mất mát đau thương trên con đường 'di tản' của họ, đâu phải ai ở phía chiến thắng cũng được biết, và hiểu?

Có một cặp vợ chồng người Nam, mà họ và tôi đă đi qua những bức rào của ký ức chiến tranh, của những người 'đến từ 2 phía của cuộc chiến', vượt qua những thành kiến Bắc – Nam, để có thể cởi mở và trở nên thân thiết ở một thành phố của Úc xa xôi. Hai người cũng gần tuổi ba mẹ tôi, xưng hô với tôi là chú thím. Người chồng từng làm công chức cho chính quyền Sài Gòn, phải đi 'cải tạo' sau năm 75 suốt mấy năm, thất nghiệp sau đó...
Và vì không có nhiều sự lựa chọn cho những người 'chiến bại', vì cuộc sống, họ phải đi vượt biên trái phép (lúc đó VN mình 'đóng cửa', có con đường đi 'có phép' nào cho họ?).
Họ đi tàu lén lút, đi mà phó thác mình cho biển cả, cho số phận, gian khổ, mất sạch của cải vì bị cướp, rồi bị đưa vào một trại tị nạn của Thái Lan, nơi mà những người đàn ông bị bắt lao động cực nhọc, bị đánh đập dã man (chính chú bị đánh đến điếc một bên tai), phụ nữ trẻ bị lôi đi hãm hiếp hàng ngày...
Chú chỉ ngồi im khi thím kể cho tôi nghe từng chuyện. Dường như vẫn còn nguyên sự khiếp đảm trên khuôn mặt chú và trong giọng kể của thím về quãng đời khủng khiếp ấy.
Sau hai năm ở trại tị nạn Thái Lan, nhờ có người nhà bảo lãnh – vợ chồng chú thím rời qua Úc sống một cuộc sống hiền lành đến bây giờ. Và dù cuộc sống bên đó thanh bình với họ, họ vẫn luôn đau đáu về Việt Nam với một tình yêu mà chỉ có những ai đã từng sống cạnh những người tha hương mới cảm nhận được.

Thím nói với tôi: "Vì vậy mà thím không mua nhà bên này. Thím đã mua được một miếng đất ở quê thím. Thím chỉ mong khi già yếu sẽ về VN và chết ở quê nhà".

Thế đấy.

Chiến tranh khắc nghiệt là vậy.

Tôi viết bài này, không có ý gì khác, chỉ là cảm xúc sâu sắc rất thật của bản thân, qua những gì được nghe, được thấy, những gì mình đã đi, đă biết, đã thấm hiểu... Những đớn đau, mất mát... từ những người, những gia đình ở hai phía của cuộc chiến.

Thế, để thấy mình may mắn biết bao nhiêu, hạnh phúc được sống một cuộc sống thanh bình, trong khi vẫn còn những vết thương xưa chưa hết đau, vẫn còn những người lính ngày nay đối diện với hiểm nguy, vẫn còn những người vợ, người mẹ ngày đêm cầu nguyện cho chồng, con mình bình yên, và mong họ trở về.

Tôi chắc là đa phần những người lính xưa kia và hôm nay, dù đứng ở chiến tuyến nào, chắc chắn đều mong muốn tột bậc được sống một cuộc sống trong bình yên không chiến tranh.

---------------------------
Bài viết đăng trên website của LHSVN:
CẢM NHẬN VỀ CHIẾN TRANH